Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

Các lý do nên và không nên mua máy ảnh DSLR

Các lý do nên và không nên mua máy ảnh DSLR

(sưu tầm)
Các lý do nên và không nên mua máy ảnh DSLR
Các lý do nên và không nên mua máy ảnh DSLR
Bạn phân vân có nên mua DSLR không? Bài này giúp bạn thấy ưu nhược điểm của nó

A/ 10 lý do nên mua máy ảnh DSLR

1. Tự do sáng tạo: 


Máy ảnh DSLR có rất nhiều chế độ chụp cho phép người dùng có thể chủ động cài đặt tốc độ màn trập, khẩu độ, ISO…. Do đó, người dùng có thể thỏa sức sáng tạo những bức ảnh với nhiều phong cách khác nhau như chụp chân dung làm mờ hậu cảnh, chụp phơi sáng, chụp thể thao tốc độ cao…

2. Cảm biến ảnh cỡ lớn: 


Không như các máy ảnh compact sử dụng cảm biến nhỏ , máy ảnh DSLR sử dụng cảm biến ảnh lớn hơn rất nhiều lần. Ngay cả những máy ảnh DSLR sử dụng cảm biến APS-C cũng đã lớn hơn những cảm biến cỡ 1/2.5" của máy ảnh compact.



Cảm biến ảnh cỡ lớn của DSLR cho chất lượng ảnh tốt hơn

Sử dụng cảm biến ảnh kích thước lớn hơn cho phép máy ảnh DSLR mang lại chất lượng ảnh tốt hơn, nhiều chi tiết được ghi lại trên ảnh, có dải tương phản động cao hơn và có thể tạo được độ sâu trường ảnh (DOF),…

3. Ít nhiễu:


Nhiễu (noise) trên máy ảnh số cũng giống như hạt (grain) trên film. Máy ảnh DSLR sử dụng cảm biến ảnh lớn nên có khả năng khử nhiễu tốt hơn.

Khử nhiễu tốt đồng nghĩa với chất lượng ảnh, màu sắc và khả năng lên chi tiết tốt khi chụp ảnh trong điều kiện thiếu sáng với ISO cao.

4. Nhiều phụ kiện đi kèm: 


Máy ảnh DSLR có khả năng mở rộng rất lớn với việc hoán đổi ống kính, bổ sung filter tạo hiệu ứng, đồ chơi chụp Macro, hay đơn giản chỉ là sử dụng flash ngoài.

Điều này cho phép người dùng có thể thoải mái sáng tạo những bức ảnh với nhiều phong cách khác nhau. Miễn là họ biết cách ứng dụng các phụ kiện đi kèm đó.

5. Không bị trễ khi chụp: 


Điểm nổi bật khác của DSLR so với các máy ảnh compact chính là khi nguời dùng bấm nút chụp thì máy DSLR sẽ nhấc guơng lật và mở màn chập, chụp ảnh ngay lập tức. Còn với máy ảnh compact thì máy sẽ có một khoảng thời gian trễ khi bạn bấm máy.

Chính vì thế, khi chụp bằng các máy Compact, người dùng rất hay đánh mất những khoảnh khắc mà có lẽ phải rất lâu mới xảy ra một lần. Còn với DSLR, nguời dùng có thể hoàn toàn yên tâm về điều này.

6. Khởi động nhanh: 


Hầu hết các máy DSLR hiện nay đều có thể khởi động và bắt đầu chụp ngay lập tức khi người dùng bật máy. Việc khởi động nhanh cho phép người dùng có thể tắt rồi bật máy và chụp ngay lập tức, không sợ bị lỡ mất những khoảng khắc hay và bất ngờ.

7. Chất lượng thiết kế cao: 


Hầu hết tất cả các máy ảnh compact thường được thiết kế vỏ nhựa. Do đó việc sơ suất va đập có thể làm hư hại không chỉ vỏ máy mà có thể cả các thiết bị bên trong. Còn máy ảnh DSLR thì lại được thiết kế chắc chắn hơn với thiết kế vỏ bằng kim loại. Tuy một số máy DSLR dòng phổ thông có thể vẫn sử dụng nhựa để làm vỏ, nhưng nhìn chung vẫn chắc chắn hơn các máy ảnh compact.

8. Kính ngắm quang học: 


Các máy ảnh DSLR đều cho phép người dùng chụp bằng cách ngắm khung hình qua kính ngắm quang học trên nóc máy. Với kính ngắm quang học, người dùng có thể nhìn thấy nhiều chi tiết hơn bằng mắt và không phải lo về việc bóng phản chiếu trên màn LCD khi chụp ngoài trời như các máy ảnh compact. Ngoài ra, ngắm qua kính ngắm quang học cũng làm người dùng có cảm giác chuyên nghiệp hơn.



Kính ngắm quang học tạo cảm giác chuyên nghiệp khi sử dụng

Tuy nhiên, điểm yếu của việc sử dụng kính ngắm quang học là người dùng khó có thể chụp được những góc máy khó vì không thể xác định được máy ảnh đang ngắm vào đâu.

9. Sự cải tiến về thiết kế: 


Điều mà người dùng dễ nhận thấy nhất là máy ảnh compact khá nhỏ gọn, nhưng khi sử dụng trong thời gian dài thì rất dễ gây mỏi, hay chuột rút do các ngón tay phải gập lại.


Máy ảnh compact nhỏ gọn nhưng lại có thể gây khó khăn khi sử dụng do quá nhỏ. Máy ảnh DSLR có kích thước to hơn (đôi khi còn có cả grip) tuy hơi nặng về trọng lượng, nhưng với thiết kế phần gờ bên phải nên khi cầm sẽ giúp các ngón tay của người dùng thoải mái hơn.

Và một quy tắc là, máy ảnh DSLR càng rẻ thì thiết kế càng nhỏ và kém thuận tiện hơn.

10. Giá cả: 


Ngày nay, với rất nhiều mẫu máy ảnh DSLR của các hãng như Canon, Nikon, Sony, Pentax,… và nhiều dòng máy DSLR bình dân cũng như chuyên nghiệp được ra đời nên đã giúp giá thành của các máy DSLR rẻ hơn cách đây 2 năm rất nhiều. Chỉ khoảng từ 500-600 USD, người dùng đã có thể sở hữu một than máy DSLR bình dân cùng ống kính kit.

Điều này cho phép nhiều người dùng có thể tự sắm cho mình một chiếc máy ảnh DSLR để chụp ảnh lưu niệm gia đình hay kể cả để chụp ảnh nghệ thuật.

B/ 10 lý do không nên mua máy ảnh DSLR

Lý do 1: To và nặng.


Nếu bạn đã từng cầm DSLR, bạn sẽ thấy nó rất cồng kềnh so với các dòng máy PnS. Chỉ tính riêng phần thân máy (Body), DSLR đã to gấp 3-4 lần. Chưa kể đến sự có mặt của ống kính (đặc biệt là các loại ống Tele) và hàng loạt phụ kiện đi kèm. Nếu bạn quá cầu toàn, hành trang DSLR của bạn trong mỗi chuyến đi du lịch sẽ kèm cả chân máy, vài ống kính, các thiết bị vệ sinh, đèn Flash, pin phụ… có thể khiến bạn có cảm giác mình chuẩn bị vũ khí ra trận chứ không phải về một miền nắng gió nào đó để thư giãn.


Lý do 2: Tính di động kém.

Nguyên nhân của lý do thứ hai cũng bắt nguồn từ lý do thứ nhất. Sự linh hoạt của bạn khi xách theo DSLR bên mình sẽ kém hơn nhiều so với một chiếc máy PnS. Do DSLR rất đắt tiền nên ngay các loại túi bảo vệ cũng đã là một gánh nặng, chưa kể tới phụ kiện đi kèm sẽ choán hết chỗ cho những vật dụng thiết yếu khác như quần áo, lương thực… Điều này hoàn toàn trái ngược với việc mang theo một chiếc máy PnS nhỏ gọn có thể nhét trong túi quần và lấy ra dùng bất cứ khi nào cần.

Lý do 3: Kém tiện dụng

Những người dùng chỉ cần lưu lại hình ảnh và không quan tâm nhiều tới yếu tố nghệ thuật hay khắt khe tới từng điểm ảnh sẽ thấy PnS là lựa chọn lý tưởng hơn cả. Bạn hẳn không muốn mở túi, lôi một chú khủng long từ trong đó ra, thay ống kính cho phù hợp … chỉ để chụp vài người bạn ở nhà hàng hay một cảnh thú vị gì đó trên đường chứ.

Lý do 4: Khó khăn hơn trong việc “ngắm bắn”:

Trong khi các dòng máy PnS thường có màn hình LiveView to đẹp cho phép người dùng căn chỉnh khung hình trước khi bấm máy một cách dễ dàng thì các dòng DSLR thường dùng ViewFinder và buộc phải có thao tác dòm qua lỗ kính nhỏ. Ngay những thế hệ DSLR hiện đại cho phép sử dụng màn hình để ngắm thì thao tác cũng hết sức phức tạp. Trong khi đó với máy PnS, thậm chí một số mẫu màn hình còn có thể xoay ngang xoay ngửa để tiện cho góc nhìn (ví dụ như khi bạn cần giơ máy lên cao hơn đầu để chụp chẳng hạn). Đây có thể là điểm mấu chốt khiến nhiều người chọn PnS thay vì DSLR.

Lý do 5: Sức mạnh dư thừa

Một trong những điểm mạnh của DSLR là cung cấp cho người dùng những bức hình có độ phân giải cao để tạo ra những bản in đẹp mắt. Tuy nhiên, với đại đa số người bình thường, các bức hình nhỏ chia sẻ trong gia đình thì bộ cảm biến cỡ lớn của DSLR không phát huy được tác dụng. Nhiệm vụ này có thể được máy PnS hoàn thành tốt.

Lý do 6: Thu hút sự chú ý không mong muốn 

Một trong những điều được đánh giá là “khó chịu” nhất ở DSLR là nó luôn gây ra những sự chú ý không cần thiết. Việc rút ra một chiếc máy ảnh thuộc dạng khủng giữa đường phố hoặc chốn đống người (trong các sự kiện hoặc họp hành) rõ ràng sẽ khiến người khác nhìn bạn chằm chằm. Nhiều khi điều này còn khiến bạn trở thành mồi ngon cho những tên trộm láu cá. Có thể nhiều người khoái trở thành điểm tập trung sự chú ý của người xung quanh với DSLR nhưng nhìn chung điều này gây ra nhiều phiền toái hơn là lợi ích.

Lý do 7: Phức tạp hơn trong thao tác

Nếu bạn chưa từng đụng tới DSLR, dòng máy này có thể sẽ là thảm họa. Nó có nhiều nút, nhiều tính năng khiến cho những người dùng mới bắt đầu cảm thấy chóng mặt. Trong khi đó, các dòng PnS lại được thiết kế thân thiện hơn ngay từ khi nằm trên bàn giấy để xứng với cái tên ngắm – chụp (Point and shoot).

Lý do 8: Một trong những thú chơi tốn kém nhất

Thế mạnh của DSLR là nó cho phép người dùng tùy biến vô vàn phụ kiện tùy theo nhu cầu sử dụng như mua thêm ống kính, đèn Flash, kính lọc, ống mở rộng… Thực tế cho thấy nhiều tay chơi khi đã dấn thân vào thế giới DSLR thường tốn kém hơn nhiều so với khoản dự tính ban đầu. Khoản chi phí cho phụ kiện luôn lớn hơn rất nhiều lần so với thân máy. Luôn luôn có một số món hấp dẫn mà bạn muốn bổ sung thêm cho bộ đồ nghề của mình. Trong khi đó, với các dòng máy PnS, tùy chọn khá ít ỏi và điều này sẽ giúp bạn tiết kiệm hơn nhiều.

Lý do 9: Thêm căng thẳng

Đầu tư vào DSLR sẽ có thể ngốn của bạn hàng chục triệu đồng, và khi vác cả cục tiền này ra đường dưới dạng chiếc máy ảnh sẽ tạo ra một sức ép tâm lý tương đối đối với mọi chủ nhân. Những nguy cơ va đập, trộm cắp, thời tiết… luôn khiến bạn phải cảnh giác và cẩn thận ở mọi nơi mọi lúc. Điều này rõ ràng mệt mỏi hơn nhiều so với việc tung tẩy khi nhét máy PnS trong túi. Thậm chí kể cả khi chiếc PnS bị mất, bạn vẫn có thể mua lại chiếc nữa mà giá của cả hai chưa bằng nửa chiếc DSLR (tùy thuộc dòng máy).

Lý do 10: Làm ví tiền mỏng đi

Mặc dù các dòng máy DSLR đang ngày càng trở nên rẻ hơn với những mẫu hệ “Entry Level” như Canon EOS 1000D hay Nikon D3000 nhưng thực tế người dùng vẫn có thể sắm cho mình một chiếc PnS với giá rẻ hơn rất nhiều. Nhìn chung, nếu bạn không cần tới những ưu thế của DSLR thì việc sắm một chiếc máy PnS giá rẻ sẽ tiết kiệm được khối tiền đấy !. Chúc bạn may mắn.
Tác giả bài viết: 

6 tùy chỉnh máy ảnh số cho người mới chơi

6 tùy chỉnh máy ảnh số cho người mới chơi

(sưu tầm)
6  tùy chỉnh máy ảnh số cho người mới chơi
6 tùy chỉnh máy ảnh số cho người mới chơi
Nếu là người mới chơi chơi nhiếp ảnh và sắm một chiếc máy ảnh số DSLR, bạn nên tham khảo bản hướng dẫn sử dụng khá chi tiết kèm theo máy để nắm được các thông số

Bước 1: Chọn chất lượng ảnh cao nhất


Tùy chỉnh cho máy ảnh

Chọn được định dạng ảnh, ISO và mức độ cân bằng trắng phù hợp sẽ giúp bạn có một khởi đầu thuận lợi trên hành trình sáng tạo nghệ thuật với máy ảnh số.
Với định dạng ảnh, thay vì chọn ảnh JPEG, bạn hãy sử dụng chuẩn RAW. Định dạng này có thể khiến bạn mất thêm ít nhiều dung lượng lưu trữ so với dạng nén JPEG nhưng RAW sẽ giúp có thêm nhiều tùy chỉnh khi xử lý hậu kỳ, đồng thời cho chất lượng ảnh tốt hơn.
Bạn cũng không phải lo lắng sẽ mất thời gian tùy chỉnh định dạng RAW vì hiện nay không thiếu các phần mềm giúp bạn tự động chuyển đổi sang định dạng mong muốn.
Với thông số ISO, bạn hãy chỉnh độ nhạy sáng càng thấp càng tốt, vào khoảng 100-400. Hầu hết các camera số ghi hình ở mức ISO cao đều dễ sinh độ nhiễu lớn trên ảnh. Để tùy chỉnh cân trắng hợp lý, bạn có thể để chế độ tự động. Tất nhiên, bạn cũng nên bắt đầu tìm hiểu các mức nhất định như Cloudy hay Tungsten để làm chủ máy.

Bước 2: Chọn chế độ phơi sáng phù hợp



Máy DSLR hỗ trợ hàng loạt chế độ phơi sáng, từ tùy chọn hoàn toàn tự động như một chiếc máy ngắm và chụp tới các chế độ tùy chỉnh hoàn toàn bằng tay. Trong số các chế độ này, bạn hãy quan tâm tới Aperture Priority và Shutter Priority, vốn giúp bạn có thêm nhiều cơ hội để sáng tạo hơn.
Chế độ ưu tiên Aperture Priotiry giúp bạn có thể chọn độ mở thích hợp, nhờ đó có thể chọn được tiêu điểm ảnh ưng ý. Camera sẽ tự động chọn được tốc độ cửa chập phù hợp để có được mức phơi sáng tốt nhất.
Trong khi đó, chế độ Shutter Priority sẽ giúp bạn chọn được tốc độ cửa chập phù hợp, tùy vào cảnh, đối tượng muốn chụp, máy sẽ tự động điều chỉnh độ mở tương ứng.

Bước 3: Tùy chỉnh chế độ đo sáng



Các tùy chỉnh đo sáng tùy thuộc vào từng máy và thương hiệu, nhưng có 3 mức cơ bản nhất trên các máy DSLR đó là Multi-zone (hay Evaluative trên dòng Canon, Matrix với máy Nikon), Centre-weighted và Spot.
Chế độ Multi-zone sẽ chia hình ảnh thành nhiều vùng khác nhau và đọc toàn bộ cảnh để đặt mức phơi sáng phù hợp. Trong hầu hết các trường hợp, mức phơi sáng tự động của chế độ này tương đối chính xác.
Chế độ Centre-weighted sẽ đọc ảnh nhưng tập trung chủ yếu vào trung tâm của khung hình (60-70%). Đây là tùy chọn sẽ giúp bạn có được những bức ảnh chân dung như ý.
Chế độ Spot cho phép bạn đọc những vùng ảnh chi tiết, do đó sẽ có được thông số chính xác nhất, mặc dù người chụp sẽ phải thao tác cẩn trọng. Khi chụp hình với chế độ tự động phơi sáng như Aperture Priority, chế độ đo sáng Spot thường được sử dụng kết hợp với việc khóa mức phơi sáng của máy bằng nút AEL, nhờ đó bạn có thể thay khung hình mà không làm ảnh hưởng tới mức độ phơi sáng.

Bước 4: Chọn độ mở và tốc độ cửa chập



Độ mở và tốc độ cửa chập là hai thông số rất quan trọng trên máy. Kết hợp hai mức tùy chỉnh này không chỉ ảnh hưởng tới lượng ánh sáng sẽ đi vào thấu kính để phơi sáng ảnh mà còn quyết định tới hình dáng của ảnh.
Độ mở quyết định tới độ sâu trường ảnh. Nếu bạn muốn độ sâu trường ảnh thấp nhằm làm nổi bật đối tượng và để cảnh nền nhòe, hãy chọn độ mở rộng như f2/8. Ngược lại, nếu chọn đối tượng ảnh là cảnh nền, hãy tùy chỉnh độ mở hẹp, chẳng hạn f/22.
Tốc độ cửa chập quyết định đối tượng ảnh di chuyển mờ hay rõ. Tốc độ chậm sẽ làm ảnh mờ hơn và ngược lại.

Bước 5: Đặt chế độ AF và Drive



Để đảm bảo độ sắc nét của ảnh, máy DSLR cung cấp hàng loạt chế độ tiêu điểm ảnh khác nhau. Hai mức tùy chọn chính là chụp đơn (single- shot) để chụp đối tượng, cảnh tĩnh và chế độ servo để chụp đối tượng di chuyển.
Chế độ Drive giúp bạn có thêm khá nhiều tùy chọn khác như chọn một ảnh (single shooting), chế độ chọn chụp liên tiếp (continous shooting), chụp hẹn giờ và chụp macro cận cảnh.

Bước 6: Chụp thử!


Đây là lúc bạn có thể tiến hành chụp thử nghiệm. Lưu ý, bạn phải sử dụng màn hình LCD một cách hợp lý. Bạn cũng nên bắt đầu thường xuyên kiểm tra mức độ phơi sáng của ảnh để hình thành thói quen bằng cách nhấn nút Display hoặc Info.
Một biểu đồ trên màn hình sẽ cho biết chất lượng tấm ảnh bạn vừa thực hiện. Nếu chưa hài lòng, bạn có thể tiến hành điều chỉnh để có được kết quả tốt hơn.

Tác giả bài viết: 

DSLR cho người di chuyển nhiều

DSLR cho người di chuyển nhiều

(sưu tầm)
DSLR cho người di chuyển nhiều
DSLR cho người di chuyển nhiều
Máy ảnh cao cấp có rất nhiều lợi thế, nhưng nếu như bạn còn những dự định đầu tư vào các phụ kiện khác như ống kính, đèn, chân máy... và lại là người thích sự gọn nhẹ, bạn nên cân nhắc quyết định mua máy của mình bằng việc lướt một vòng các phiên bản DSLR khác nhau của các hãng khác nhau
Máy ảnh cao cấp nhất đôi khi không phải là lựa chọn tối ưu cho những người thường xuyên di chuyển để chụp ảnh.
Canon EOS 1D ra mắt năm 2001. Ảnh:
Canon EOS 1D ra mắt năm 2001. Ảnh:
Có bao giờ bạn phải suy nghĩ đắn đo giữa một phiên bản DSLR với cảm biến APS-C chỉ 4,5 triệu điểm ảnh, ISO 200-1.600, thời gian khởi động 3 giây và giá tiền thì tới 6.500 USD với một phiên bản DSLR khác cũng cảm biến APS-C nhưng độ phân giải 18,7 triệu điểm, ISO 100-6.400 và thời gian khởi động gần như tức thời với giá chỉ 800 USD. Trường hợp đầu là phiên bản EOS-1D (ra mắt 2001) và trường hợp sau là EOS 600D (ra mắt tháng 3 năm nay). Khi phiên bản 1D ra đời, nó đã được tôn vinh là máy ảnh chuyên nghiệp nhất với đầy đủ mọi tính năng cần thiết cho dân chuyên nghiệp. Tuy nhiên ngày nay, khi phiên bản 600D ra mắt, nó cũng không hề kém cạnh nếu không nói là ở một số thông số thậm chí còn tốt hơn. Tất nhiên mới và tốt hơn không thể biến 600D thành một máy ảnh chuyên nghiệp được. Vấn đề cốt lõi ở đây là chúng ta sẽ định nghĩa một máy ảnh là chuyên nghiệp xét trên những góc độ nào.

Đâu sẽ là những tiêu chí cần thiết cho một máy ảnh chuyên nghiệp? Có thể là cơ chế lấy nét, thời lượng pin, độ bèn cửa trập, thiết kế, xử lý hình ảnh hay khả năng tối ưu ở điều kiện thiếu sáng? Tất cả lại phụ thuộc vào người chụp – họ chụp gì, chụp như thế nào, chụp ở đâu và ai sẽ là khách hàng.
Xét cho cùng, trong tất cả các tranh luận về việc điều gì khiến một máy ảnh trở nên chuyên nghiệp, hay nói đúng hơn phải là điều gì khiến một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp sẽ chọn máy ảnh để làm phương tiện kiếm sống cho mình, kết luận luôn là tính tức thời. Nhiếp ảnh là khoảnh khắc, vì thế bất kỳ một sự chậm trễ nào (tốc độ khởi động, đỗ trễ cửa trập...) cũng là điều khó có thể chấp nhận với các tay máy chuyên nghiệp, bởi lẽ họ luôn mong muốn máy phải luôn sẵn sàng ngay khi họ cần chúng. Các yếu tố liên quan khác, vì thế, chỉ là tùy theo phong cách cá nhân hay nhu cầu đơn lẻ của mỗi nhiếp ảnh gia mà thôi.

Rõ ràng máy ảnh cao cấp có rất nhiều lợi thế, nhưng nếu như bạn còn những dự định đầu tư vào các phụ kiện khác như ống kính, đèn, chân máy... và lại là người thích sự gọn nhẹ, bạn nên cân nhắc quyết định mua máy của mình bằng việc lướt một vòng các phiên bản DSLR khác nhau của các hãng khác nhau. Thực tế cho thấy bản thân các nhiếp ảnh gia cũng đang càng ngày càng có xu hướng tìm kiếm các phiên bản thấp cấp hơn một chút để tiện mang đi hơn là các bản chuyên nghiệp nặng nề và cồng kềnh.
Lợi thế lớn nhất của các dòng máy ảnh được coi là chuyên nghiệp là tốc độ, độ chắc chắn và khả năng chụp ISO cao. Nhưng không phải trong tất cả các trường hợp, độ chắc chắn và tốc độ lại là ưu tiên hàng đầu. Càng ngày các phiên bản DSLR thấp cấp hay trung cấp càng được trang bị cảm biến và bộ xử lý hình ảnh đủ hữu dụng cho những bức ảnh có chất lượng thỏa mãn nhu cầu chuyên nghiệp. Thêm vào đó, thân máy thấp cấp/trung cấp này vẫn tận dụng được tối đa hầu như tất cả các ống kính chuyên nghiệp với đầy đủ tính năng như khi được lắp trên các thân máy cấp cao.
Dưới đây là những thông số quan trọng để so sánh trực tiếp lợi thế giữa thân máy cao cấp và thân máy thấp cấp theo tạp chí nhiếp ảnh DPP.
Chất lượng hình ảnh.
Nikon D7000 sử dụng cảm biến APS-C 16,2 triệu điểm ảnh của Sony. Ảnh:
Nikon D7000 sử dụng cảm biến APS-C 16,2 triệu điểm ảnh của Sony. Ảnh:Aputure.
Với sự cải tiến không ngừng của công nghệ, ngày nay máy ảnh bình dân và trung cấp cũng có thể cho ra những bức ảnh có chất lượng tốt, thậm chí một số phiên bản gần đây còn có chất lượng không hề kém gì so với máy chuyên nghiệp. Chẳng hạn, trong một kiểm nghiệm ảnh RAW gần đây của trang DxOMark, các máy ảnh sử dụng cảm biến APS-C 16,2 triệu điểm ảnh của Sony (bao gồm Nikon D7000, D5100, Pentax K5 và Sony A580) đạt tổng điểm từ 80 đến 82, gần đạt mức 88 của phiên bản cao cấp nhất là Nikon D3X (cảm biến 24,5 triệu điểm và có giá tới 8.000 USD). Mặc dù các máy ảnh chuyên nghiệp có một chút lợi thế về khả năng chụp ISO cao nhưng rõ ràng các phiên bản bình dân vừa đề cập cũng đã thể hiện mình không hề thua kém.
Tốc độ.
Các máy DSLR mới đều đã được cải thiện tốc độ khởi động gần như tức thời. Ví như phiên bản Nikon D7000 (có giá khoảng 1.200 USD), thời gian khởi động chỉ 0,13 giây, chỉ chậm hơn các bản chuyên nghiệp có 0,01 giây.
Các phiên bản DSLR chuyên nghiệp có tốc độ chụp liên tục nhanh hơn và bộ nhớ đệm lớn hơn, vì thế, bạn có thể chụp nhiều ảnh hơn trong một lần bấm máy. Đây là thông số rất quan trọng đối với các nhiếp ảnh gia hành động, nhất là những người hay chụp ảnh RAW. Chẳng hạn Canon EOS-1D mark IV có thể chụp tới 28 ảnh RAW độ phân giải 16 triệu điểm với tốc độ tới 10 khung hình một giây, hay như phiên bản Nikon D3S có thể chụp tới 40 ảnh RAW độ phân giải 12,3 triệu điểm với tốc độ 9 khung hình một giây. Đây có thể nói là những phiên bản đầu bảng về tốc độ hiện nay.
Nhưng không vì thế mà các phiên bản tầm trung trở nên quá kém cạnh. Canon EOS 7D có thể chụp với tốc độ 8 khung hình một giây, trong khi Nikon D300S và Pentax K5 cũng chụp được tới 7 khung hình một giây.
Tất nhiên, khi tốc độ là ưu tiên hàng đầu thì các phiên bản trung cấp không phải là lựa chọn tối ưu bởi ngoài việc tốc độ chậm hơn, các phiên bản trung cấp còn có bộ nhớ đệm nhỏ hơn, vì thế người chụp không thể chụp liên tục một lúc nhiều ảnh được. Nhưng nếu bạn không phải là một nhiếp ảnh gia hành động thì chỉ với tốc độ của các máy ảnh tầm trung này dã quá đủ thỏa mãn các nhu cầu thông thường.
Chế độ lấy nét.
Nikon D300S có bộ xử lý mạnh mẽ. Ảnh:
Nikon D300S có bộ xử lý mạnh mẽ. Ảnh: Dpreview.
Có thể nói máy ảnh DSLR ngày nay có cơ chế lấy nét khá tuyệt vời. Thậm chí ngay cả phiên bản bình dân cũng có thể xử lý tốt các đối tượng chuyển động với hiệu quả cao. Vì thế, trừ phi bạn chuyên chụp ảnh thể thao hay hoang dã, DSLR trung cấp là lựa chọn không tồi. Nhưng nếu bạn chuyên chụp hành động, máy ảnh chuyên nghiệp tất nhiên vẫn là lựa chọn tốt nhất bởi lẽ mặc dù được trang bị cùng một hệ thống lấy nét (chẳng hạn như phiên bản Nikon D3S và D300S) nhưng với bộ xử lý hình ảnh mạnh mẽ hơn, các phiên bản chuyên nghiệp vẫn cho kết quả tối ưu hơn.
Nên nhớ các thông số này chỉ mang tính sống còn đối với những người hay chụp thể thao, chim chóc, còn đối với việc chụp trong studio thì các yếu tố này lại trở nên ít quan trọng hơn.
Một tính năng khác cũng cần quan tâm là cơ chế tinh chỉnh để bù nét cho một số ống kính nhất định. Trước đây, cơ chế này chỉ có trên các máy chuyên nghiệp. Mặc dù các phiên bản bình dân chưa được ứng dụng nhưng ở một số máy tầm trung cấp, tính năng này đã bắt đầu xuất hiện.
Độ chắc chắn.
Các phiên bản chuyên nghiệp như Canon EOS-1D Mark IV, EOS-1Ds Mark III, hay Nikon D3S và D3X vốn đắt đỏ còn vì khả năng bền bỉ trong mọi điều kiện chụp khó khăn nhất. Nhưng các máy tầm trung cấp cũng đã bắt đầu xâm lấn sang lĩnh vực này. DSLR như Canon EOS 7D hay Nikon D300S cũng được trang bị khả năng chịu bụi và chống ẩm tốt. Pentax K-5 thậm chí còn được đem thử nghiệm chụp khoảng 400 bức trong gió bão mà vẫn không hề hấn gì.
Tuy nhiên, cần nhớ là các máy bình dân không được thiết kế dùng trong những điều kiện khắc nghiệt, chỉ nên dùng trong những trường hợp bình thường như chụp trong nhà hay chụp ngoài trời khi nắng đẹp. Vì thế, nếu không phải là người thích ra ngoài chụp những lúc thời tiết bất tiện, bạn có thể tiết kiệm tiền từ việc bỏ qua các máy quá chuyên nghiệp chống chọi với thời tiết (trừ nước, bởi tất cả các bản DSLR kể cả chuyên nghiệp đều không chống nước).
Quay video.
Một điểm thú vị của công nghệ là DSLR càng mới thì tính năng liên quan đến video càng phong phú chứ không theo cấp độ chuyên nghiệp. Chẳng hạn, phiên bản bình dân D5100 có nhiều tính năng video hơn là bản chuyên nghiệp D3S (trong khi phiên bản đầu bảng D3X thậm chí còn không có chức năng này). Hay như các tính năng video trên bản bình dân Canon 600D còn tốt hơn trên bản 5D Mark II (có giá tới 2.600 USD). Nguyên do bởi lẽ các phiên bản càng mới thì công nghệ ứng dụng cũng càng mới hơn.
Nếu bạn định mua DSLR chỉ để quay phim, rõ ràng là bạn đã đầu tư sai mục đích. Nhưng nếu muốn có thêm tính năng video để linh hoạt trong việc chụp ảnh và quay phim thì các DSLR dòng trung cấp mới lại chiếm lợi thế hơn so với các bản chuyên nghiệp.
Khung nhìn.
Canon 600D có màn hình LCD một triệu điểm ảnh. Ảnh: Letsgodigital.
Canon 600D có màn hình LCD một triệu điểm ảnh. Ảnh: Letsgodigital.
Có lẽ điều nhiều người muốn xuất hiện trên các máy ảnh chuyên nghiệp nhất là một màn hình LCD chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào quá trình đổi mới công nghệ. Chẳng hạn, ở thời điểm 4 năm trước khi EOS-1Ds Mark III (giá khoảng 7.000 USD) ra mắt, màn hình LCD 230.000 điểm ảnh là hiện đại, thì nay, phiên bản bình dân mới nhất 600D với giá chỉ 800 USD lại có màn hình LCD tới hơn một triệu điểm ảnh, thậm chí còn có thể lật, xoay. Khó có thể tìm thấy một máy ảnh chuyên nghiệp cỡ trên 5.000 USD có chức năng lật xoay màn LCD, trong khi chức năng này dễ dàng xuất hiện trên các máy thấp hay trung cấp. Nếu thường xuyên phải chụp ảnh với các góc cao hay thấp hơn góc nhìn thông thường, người chụp có thể sẽ muốn lựa chọn DSLR trung cấp hơn.
Về khung ngắm, máy chuyên nghiệp có khung ngắm quang tốt hơn các bản trung cấp, nhất là các bản bình dân, do trên đó, thấu kính của khung ngắm là thấu kính ngũ giác nguyên khối (pentaprism), trong và sáng hơn nhiều so với thấu kính dạng gương phản chiếu trên các phiên bản thấp cấp. Tỷ lệ phủ hình của các khung ngắm quang cũng thường hiển thị được 100% thay vì 90 – 95% trên DSLR thông thường. Thực tế cũng đang dần thay đổi khi một số bản trung cấp cũng bắt đầu được trang bị thấu kính pentaprism với 100% tỷ lệ hiển thị khung nhìn.
Kích cỡ cảm biến.
Hầu hết các phiên bản cao cấp là full-frame với kích cỡ cảm biến lớn đúng bằng máy phim. Điều này khiến cho các máy chuyên nghiệp có lợi thế là ống kính được hiển thị đúng tiêu cự thay vì phải nhân hình như các máy trung cấp chủ yếu dùng kích cỡ APS-C.
Nhưng không phải các máy cứ sử dụng cảm biến nhỏ là mất đi lợi thế. Do chỉ số nhân hình nên các máy APS-C lợi thế khi sử dụng với tiêu cự tele. Chẳng hạn, một ống kính tiêu cự 300mm khi lắp lên thân máy cảm biến APS-C, tiêu cự sẽ lên tới 450-480mm, giúp người chụp thu hẹp được khoảng cách chụp hơn. Với một ống 300mm f/4 có giá khoảng chừng 1.500 USD khi lắp trên thân máy APS-C, người chụp có tiêu cự tương đương với ống 500mm f/4 (có giá gấp 4 tới 5 lần) lắp trên thân full-frame mà giá thành rẻ hơn, trọng lượng nhẹ hơn và chất lượng cũng không hề thua kém.
Nhưng nếu so về góc rộng thì các máy cả biến nhỏ lại lép vế khi một ống kính góc 28mm ngay lập tức trở thành 42mm trên các thân máy APS-C. Tin tốt là hiện nay các hãng máy ảnh cũng như các nhà sản xuất thứ ba đang chế tạo ống kính góc rộng chuyên biệt cho các kích cỡ cảm biến này.
Đèn flash.
Sony A850. Ảnh: Imaging-resources
Sony A850. Ảnh: Imaging-resources.
Một thực tế là tất cả các phiên bản bình dân hay trung cấp đều có đèn flash tích hợp, thậm chí một số còn được trang bị tính năng điều khiển đồng bộ hóa với đèn flash ngoài. Trong khi đó, không một máy DSLR chuyên nghiệp trên 5.000 USD nào có đèn flash tích hợp cả.
Các phiên bản cao và trung cấp thường được trang bị cổng kết nối PC để nối với đèn flash ngoài lắp trong các studio, trong khi DSLR bình dân không có. Vì thế, nếu định khởi nghiệp với nghề chụp studio thì DSLR bình dân không phải là lựa chọn tối ưu (dù người chụp vẫn có thể thực hiện được thông qua các thiết bị đồng bộ đèn rời bên ngoài). Các máy DSLR ngày nay còn có khả năng điều chỉnh dải cân bằng trắng rất rộng (và hỗ trợ khả năng tinh chỉnh hậu kỳ tối đa nếu chụp RAW), điều này khiến cho nó ưu việt hơn hẳn so với máy phim truyền thống trước đây.
Thời lượng pin.
Máy ảnh chuyên nghiệp thường chụp được nhiều ảnh trong một lần xạc pin hơn là các máy bình dân (với khoảng 4.000 lần so với chỉ 1.000-1.200 trên các máy trung cấp và 500 – 600 trên các máy bình dân). Tuy nhiên, thời lượng này chỉ phát huy hiệu quả khi bạn chụp ở những nơi không có gì để cắm xạc. Ngày nay, rất nhiều máy trung cấp và bình dân đều đã được hỗ trợ báng pin để lắp thêm pin nâng thời lượng chụp hoặc lắp được các pin dân dụng thông thường.
DSLR cho người ưa gọn nhẹ
Ống kính cho nhu cầu gọn nhẹ.
Nếu muốn có một thân máy gọn nhẹ, bạn phải tính tới một ống kính đủ tốt cho thân máy này. Ở thời đại máy phim, rất nhiều nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp cho rằng ống kính quan trọng hơn thân máy rất nhiều trong việc tạo nên những bức ảnh đẹp. Dù thời đại số đã thay thế máy phim, nhưng triết lý này vẫn không vì thế mà không còn được áp dụng.
Với thân máy trung cấp như Canon EOS 7D hay Nikon D300S và một ống kính chuyên nghiệp, kết quả thu được sẽ tốt hơn là một thân máy chuyên nghiệp (như các dòng Canon EOS-1D hay dòng Nikon D3) đi với một ống kính kém chất lượng. Nên nhớ, các ống chuyên nghiệp được chế tạo với những thấu kính chất lượng hơn, chắc chắn hơn và được trang bị mô-tơ nét hiệu quả hơn. Ống siêu tele dòng chuyên nghiệp thậm chí còn có thêm các nút khóa nét hoặc giới hạn khoảng nét để đẩy nhanh tốc độ lấy nét hơn.

Nếu sử dụng thân máy chuyên nghiệp với ống chuyên nghiệp, rõ ràng lợi thế sẽ còn tốt hơn nữa. Một là, các thân máy chuyên nghiệp có đầy đủ tính năng và công năng cần thiết. Tiếp theo, thân máy chuyên nghiệp được trang bị các cảm biến nét tối ưu hóa cho các ống độ mở lớn (như f/2.8). Nếu các ống f/2.8 được lắp vào các thân máy bình dân, mặc dù vẫn có lợi thế ở chất lượng thấu kính và độ chính xác nét, nhưng người dùng sẽ không tận dụng được độ chính xác của cảm biến nét chuyên cho các ống góc rộng, độ mở lớn. Nhưng các thân máy tầm trung hiện nay cũng đã bắt đầu hỗ trợ cảm biến nét này.
Một điều cần lưu ý là các ống chuyên nghiệp đời mới hơn sẽ có khả năng hoạt động hoàn hảo trên cùng một thân máy tốt hơn so với các ống cũ. Lý do, ống kính đời trước được thiết kế tối ưu cho máy phim, thứ nữa là công nghệ thấu kính cũng đã đạt được những tiến bộ nhất định. Vì thế, nếu tiết kiệm tiền, bạn có thể chọn các ống kính chuyên nghiệp cũ, nhưng nếu đủ năng lực tài chính nên đầu tư cho các ống kính mới (như các thế hệ ống kính Mark II của cả Canon và Nikon) bởi chúng được thiết kế tối ưu cho các máy DSLR.
DSLR cho người ưa gọn nhẹ
Bảng so sánh thông số cơ bản các máy DSLR nhỏ gọn.
STT
Danh sách DSLR nhỏ gọn
Cảm biến (Megapixel)
Kích cỡ cảm biến
Dải ISO chuẩn
Tốc độ chụp liên tục
Chế độ tinh chỉnh AF
Số lần chụp mỗi lần xạc pin
Độ phủ khung ngắm quang
Kích thước(cm)
Trọng lượng (kg)
Thẻ nhớ
1
Canon EOS 7D
18
APS-C
100-6.400
8
1.000
100%
5,8 x 4,4 x 2,9
28,9
CF
2
Canon EOS 60D
18
APS-C
100-6.400
5,3
Không
1.600
96%
5,7 x 4,2 x 3,1
23,8
SD1
3
Canon EOS 600D
18
APS-C
100-6.400
3,7
Không
550
95%
5,2 x 3,9 x 3,1
18,2
SD1
4
Nikon D300S
12,3
APS-C
200-3.200
7
950
100%
5,8 x 4,5 x 2,9
30,0
Dual, CF & SD2
5
Nikon D7000
16,2
APS-C
100-6.400
6
1.050
100%
5,2 x 4,1 x 3
24,3
Dual, SD1
6
Nikon D5100
16,2
APS-C
100-6.400
4
Không
660
95%
5 x 3,8 x 3,1
19,7
SD1
7
Olympus E-5
12
4/3
100-6.400
5
870
100%
5,6 x 4,6 x 2,9
28,2
Dual, CF & SD1
8
Olympus E-30
12
4/3
100-3.200
5
750
98%
5,6 x 4,2 x 3
23,1
Dual, CF & xD
9
Pentax K-5
16,2
APS-C
100-12.800
7
980
100%
5,2 x 3,8 x 2,9
23,3
SD1
10
Pentax K-7
14,6
APS-C
100-3.200
5,2
980
100%
5,1 x 3,8 x 2,9
22,9
SD2
11
Pentax K-r
12,4
APS-C
200-12.800
6
560
96%
4,9 x 3,8 x 2,7
19,2
SD2
12
Sigma SD15
4,7x3
APS-C
100-1.600
3
Không biết
Không biết
98%
5,7 x 4,2 x 3,2
24,0
SD2
13
Sony DSLR-A580
16,2
APS-C
100-12.800
5
Không
1.050
95%
5,4 x 4,1 x 3,3
23,9
Dual, SD1 & MS3
14
Sony SLT-A35
16,2
APS-C
100-12.800
5,5
Không
440
100%
4,9 x 3,6 x 3,3
14,6
Dual, SD1 & MS3
15
Canon EOS-1Ds Mark III
21,1
FF
100-1.600
5
1.800
100%
6,1 x 6,3 x 3,1
42,5
Dual, CF & SD2
16
Canon EOS-1D Mark IV
16,1
APS-H
100-12.800
10
1.500
100%
6,1 x 6,2 x 3,1
41,6
Dual, CF & SD2
17
Nikon D3X
24,5
FF
100-1.600
5
4.400
100%
6,3 x 6,2 x 3,4
43
Dual, CF & CF
18
Nikon D3S
12,3
FF
200-12.800
9
4.200
100%
6,3 x 6,2 x 3,4
43,7
Dual, CF & CF
19
Sigma SD1
15,4x3
APS-C
100-6.400
5
Không biết
Không biết
98%
5,7 x 4,4 x 3,1
25
CF
20
Sony DSLR-A900
24,6
FF
100-6.400
5
880
100%
6,2 x 4,6 x 3,2
30.0
Dual, CF & MS3
Tác giả bài viết: